TÌM KIẾM THÔNG TIN

  LIÊN KẾT WEBSITE
 

 

 

   Số lượt truy cập

785690
Chuyên mục: Tổ Hoá - Sinh  
Ngày đưa tin: 02/02/2012    

Các loại danh pháp hữu cơ

Danh pháp thông dụng:
Có hai loại danh pháp thông dụng là danh pháp lịch sử và danh pháp gốc. Danh pháp lịch sử là danh pháp được các nhà hóa học đặt phỏng theo nguồn gốc thiên nhiên hoặc dùng các thuật ngữ mô phỏng tính chất của chúng trước khi cấu tạo hóa học của chất đó được biết đến.
VD: (NH2)2CO được phân lập từ nước tiểu vào năm 1773 được đặt tên URÊ theo tiếng Pháp - urine có nghĩa là nước tiểu. H2N-CH2-COOH, đây là aminoaxit được tách riêng từ dung dịch thủy phân keo gelatin vào năm 1820, được đặt tên theo tiếng Hy Lạp ghép glykys có nghĩa là ngọt và colla là keo thành glycocol.
Đầu thế kỷ XIX, khi Berzélius đề xướng thuyết gốc về cấu tạo hợp chất hữu cơ danh pháp gốc ra đời, theo thuyết này, gốc là những nhóm nguyên tử không bị biến đổi trong quá trình chuyển hóa hóa học.
VD: CH3CH2-NH2 Etylamin; C6H5COCl (Benzoylclorua).
Danh pháp hợp lý:
Danh pháp hợp lý  của các hợp chất hữu cơ dựa trên cơ sở tên của các hợp chất đơn giản nhất (hợp chất cơ sở), thường là chất đầu tiên của dãy đồng đẳng. Các hợp chất khác được xem như là dẫn xuất thế môt hay nhiều nguyên tử hidro của hợp chất cơ sở bằng các nguyên tử hay nhóm nguyên tử khác (gọi chung là nhóm thế).
Tên gọi các chất hữu cơ theo danh pháp hợp lý gồm hai phần:
- Tiếp đầu ngữ: tên của các nhóm thế
- Cơ sở (thân): tên của hợp chất cơ sở.
Theo danh pháp hợp lý: metan (đôi khi là etan) etilen, metanol,... được chọn làm chất cơ sở.
VD: CH3-C(CH3)2-CH2-CH3 : trimetyletylmetan
CH2-CH=CH2: metyletilen
CH2-C(CH3)=CH2: dimetyletilen không đối xứng.
CH3-CH=CH-CH3: dimetyletilen đối xứng.
CH3-CH2-OH: metylcacbinol.
C6H5-CH2-OH: phenylcacbinol.
Danh pháp IUPAC:
Theo danh pháp IUPAC, tên gọi của các hợp chất hữu cơ phải bao gồm tên của các nhóm thế, mạch chính và nhóm chức chính. Để cấu tạo tên của các chất hữu cơ theo danh pháp IUPAC, trước hết phải tìm mạch chính và các nhóm chức chính, vì đó là hai yếu tố cơ bản để tạo thành cấu trúc của phân tử hợp chất hữu cơ. Những phần còn lại của phân tử được xem như là những nhóm thế trong cấu trúc cơ bản.
Khi xác định nhóm chức chính, các tham khảo bảng liệt kê các nhóm chức theo thứ tự ưu tiên giảm dần: Anhidrit axit > Amit > Nitrin > Amin > ...
Mạch chính được chọn sao cho nó gắn liền với nhóm chức chính và số tối đa của các nhóm chức (hoặc nhóm thế) khác hiện có.
Tên của nhóm chức chính đặt ở phần tiếp vị ngữ còn tên của các nhóm thế được đặt ở phần tiếp đầu ngữ theo thứ tự chữ cái.
Để chỉ vị trí nhóm thế, mạch chính được đánh sao cho nhóm chức chính có chỉ số nhỏ nhất.
Trong tên gọi của các hợp chất hữu cơ, giữa mạch chính và nhóm chức chính có nêu đặc điểm độ bất bão hòa của hợp chất: an đối với hợp chất no; en đối với liên kết đôi >C=C<; in đối với liên kết ba -C≡C-.
Tổng quát tên gọi hợp chất hữu cơ theo danh pháp IUPAC:
(vị trí )- Nhóm thế | mạch chính | độ bão hòa -(vị trí)- nhóm chức chính
VD: CH3-CH(C6H5)-C(CH3)=CH-CO-CH(Cl)-CH: 2-Clo-5-metyl-6-phenyl-4-hept-4-en-3-on
CH3-CH(OH)-CH2-CH=O : 3-Hidroxibutanal
CH3-CH2-CH2-CH(OH)-CH(C2H5)-CH=O : 2-Etyl-3-hidroxihexanal
CH3-CH2-CH2-CH2-CH(OH)-CH(C3H7)-CH=O : 3-hidroxi-2-propylheptanal


Các tin khác :
 
Bản quyền thuộc: Trường THPT Tôn Đức Thắng
Điện thoại : (058)3654315
  Email : c3tdthang@khanhhoa.edu.vn